Tình hình sản xuất chăn nuôi

Thứ sáu, 11/12/2015, 21:50 GMT+7


Chăn nuôi trâu bò: Phát triển ổn định, đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt do một số doanh nghiệp tăng cường đầu tư và mở rộng quy mô chăn nuôi kết hợp với điều kiện thuận lợi về thời tiết ở một số địa phương. Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, tổng số trâu cả nước giảm khoảng 1%, tổng số bò tăng khoảng 2-3% so với cùng kỳ năm 2014.


Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn phát triển tốt do nhu cầu thị trường đầu ra ổn định, giá thịt lợn hơi duy trì lãi suất cho người chăn nuôi, mô hình chăn nuôi lớn tiếp tục đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Theo số liệu điều tra 1/10, so với cùng kỳ năm trước, cả nước có khoảng 28,2 triệu con lợn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn lợn nái có trên 4,1 triệu con tăng 3,8%.

Chăn nuôi gia cầm: Theo số liệu điều tra 1/10 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm của cả nước có khoảng 342,2 triệu con, tăng 4,3%; trong đó đàn gà có 259,2 triệu con tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước.

 

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 10/12/2015, tình hình dịch bệnh torng cả nước diễn biến như sau:

1.1. Dịch Cúm gia cầm

Tỉnh Quảng Ninh: Theo báo cáo của Cơ quan Thú y vùng II, ngày 07/12/2015 đã xảy ra ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Minh Cầm, huyện Ba Chẽ làm 705 con gia cầm (691 con gà và 14 con ngan) mắc bệnh và tiêu hủy.

Các ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 ở 02 xã Tịnh Giang và Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi và ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 ở xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã qua 21 ngày không phát sinh thêm gia cầm mắc mới.

Hiện nay, cả nước có 03 ổ dịch Cúm gia cầm xảy ra ở 03 tỉnh chưa qua 21 ngày, gồm:

(1) Tỉnh Nghệ An có 01 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu (đã qua 12 ngày);
(2) Tỉnh Lai Châu có 01 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại phường Quyết Thắng, thành phố Lai Châu (đã qua 14 ngày);
(3) Tỉnh Quảng Ninh có 01 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại xã Minh Cầm, huyện Ba Chẽ (đã qua 02 ngày).

1.2. Dịch LMLM:

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh ở các địa phương.
Hiện nay, cả nước có 19 ổ dịch LMLM xảy ra tại 09 huyện của 06 tỉnh chưa qua 21 ngày, cụ thể:

(1) Tỉnh Phú Yên có 01 ổ dịch LMLM xảy ra ở xã Cà Lúi, huyện Sơn Hòa (đã qua 16 ngày);
(2) Tỉnh Ninh Thuận có 04 ổ dịch tại huyện Ninh Sơn, cụ thể: 01 ổ dịch LMLM (typ A) tại xã Lương Sơn và 03 ổ dịch LMLM (typ O) ở thị trấn Tân Sơn, xã Lâm Sơn và xã Ma Nới (đã qua 04 ngày);
(3) Tỉnh Hà Tĩnh có 01 ổ dịch xảy ra tại xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên (đã qua 18 ngày);
(4) Tỉnh Cao Bằng có 11 ổ dịch ở 04 huyện, cụ thể:

a) Huyện Trùng Khánh có 04 ổ dịch tại các xã Lăng Hiếu, Đức Hồng, Cảnh Tiên (đã qua 03 ngày) và Ngọc Khê;
b) Huyện Bảo Lâm có 02 ổ dịch ở xã Mông n và thị trấn Pác Miầu (đã qua 03 ngày);
c) Huyện Hạ Lang có 04 ổ dịch LMLM typ O ở các xã Quang Long, Thắng Lợi, An Lạc và thị trấn Thanh Nhật;
d) Huyện Hà Quảng có 01 ổ dịch ở xã Hạ Thôn.

(5) Tỉnh Nghệ An có 01 ổ dịch LMLM typ O tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên (đã qua 08 ngày);
(6) Tỉnh Yên Bái có 01 ổ dịch LMLM typ O tại xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu (đã qua 06 ngày).

1.3. Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh ở các địa phương.
Hiện nay, cả nước có 02 ổ dịch Tai xanh xảy ra tại 02 tỉnh/thành phố chưa qua 21 ngày, cụ thể như sau:

(1) Tỉnh Sóc Trăng có 01 ổ dịch ở thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên (đã qua 18 ngày);
(2) Thành phố Cần Thơ có 01 ổ dịch tại phường Hưng Phú, quận Cái Răng (đã qua 09 ngày).

1.4. Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Các ổ dịch Cúm gia cầm vừa qua xảy ra chủ yếu trên đàn gia cầm nuôi tại một vài hộ chăn nuôi gia đình, chưa được tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm và đã được chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn thú y phát hiện và xử lý kịp thời nên không có hiện tượng lây lan. Tuy nhiên, hiện nay do diễn biến phức tạp của thời tiết nên nguy cơ dịch phát sinh và lây lan là rất cao, các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm độc lực cao H5N1, H5N6 và một số chủng vi rút cúm có thể lây sang người như vi rút H7N9; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời. Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành chủng vi rút cúm gia cầm (văn bản số 371/TY-DT ngày 06/3/2015) và văn bản hướng dẫn sử dụng vắc xin cúm (văn bản số 1883/TY-DT ngày 29/9/2015 và 1518/TY-DT ngày 05/9/2014) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Dịch LMLM: Trong thời gian vừa qua, các ổ dịch LMLM xảy ra chủ yếu ở dạng nhỏ lẻ. Nguy cơ mầm bệnh phát tán làm dịch lây lan rộng trong các vùng là rất cao. Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các tỉnh có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Dịch lợn tai xanh: Trong thời gian vừa qua dịch Tai xanh đã xảy ra chủ yếu trên các đàn lợn chưa được tiêm phòng vắc xin phòng bệnh tai xanh. Vi rút tai xanh vẫn đang tiềm ẩn trong đàn lợn ở một số địa phương do vậy các địa phương cần tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn và thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch xâm nhập vào địa bàn.

Hiện nay, giá lợn hơi trên địa bàn tỉnh An Giang được các thương lái thu mua với giá 38.000 đ/kg, giá lợn hơi ở Vĩnh Long là 40.500 đ/kg. Giá lợn hơi thời gian qua ở mức thấp do ảnh hưởng thông tin một số trang trại chăn nuôi lợn trong nước sử dụng chất cấm để tạo nạc nên người tiêu dùng e ngại khi sử dụng thịt lợn. Bên cạnh đó, các tỉnh ĐSCL hiện đang vào mùa nước nổi, cá đồng và nhiều loại thủy sản khác được bày bán nhiều tại các chợ cũng là nguyên nhân khiến mặt hàng này tiêu thụ chậm, ảnh hưởng đến giá cả. Dự báo, thời điểm cận Tết Nguyên đán, giá lợn hơi sẽ tăng trở lại.

Trong tháng qua, giá gà thịt tại trại ở khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL có xu hướng giảm với mức giảm 5.500 – 6.000 đ/kg, hiện dao động từ 19.500 – 20.500 đ/kg. Hiện tại, gà Mỹ và nhiều sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam với giá rẻ tiếp tục ảnh hưởng đến giá thịt gà trong nước.

TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU

Thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 10/2015 đạt 267 triệu USD, giảm 15,01% so với tháng trước đó nhưng tăng 8,54% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung, 10 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã chi hơn 2,8 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, tăng 3,12% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 10 tháng đầu năm 2015, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Áo với hơn 88 triệu USD, tăng 7.742,89% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Tây Ban Nha với hơn 32 triệu USD, tăng 230,34% so với cùng kỳ; Hà Lan với 23 triệu USD, tăng 54,61% so với cùng kỳ, sau cùng là Canada, với hơn 25,5 triệu USD, tăng 40,43% so với cùng kỳ.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 10/2015 vẫn là Achentina, Hoa Kỳ, Brazi và Áo… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 123 triệu USD, giảm 10,2% so với tháng trước đó nhưng tăng 6,53% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này trong 10 tháng đầu năm 2015 lên gần 1,2 tỉ USD, chiếm 42,5% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 10,36% so với cùng kỳ năm trước – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 10 là 25,5 triệu USD, tăng 17,88% so với tháng 9/2015 và tăng 8,95% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung, 10 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này 370 triệu USD, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng mạnh trong 10 tháng đầu năm 2015, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.

Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 10/2015 là Brazil với trị giá 18 triệu USD, giảm 66,95% so với tháng trước đó và giảm 38,31% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2015 lên 249 triệu USD, tăng 20,82% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và Áo với kim ngạch đạt 155 triệu USD, 93 triệu USD; 92 triệu USD; và 88 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu tháng 10/2015 và 10 tháng đầu năm 2015
ĐVT: nghìn USD

 
  KNNK 10T/2014 KNNK T10/2015 KNNK 10T/2015 +/- so với T9/2015 (%) +/- so với T10/2014 (%) +/- so với 10T/2014 (%)
Tổng KN 2.736.414 267.760 2.821.898 -15,0 8,5 3,1
Achentina 1.086.914 123.487 1.199.508 -10,2 6,5 10,4
Ấn độ 113.565 7.393 92.465 19,3 8,7 -18,6
Anh 1.426 197 1.956 120 31,5 37,2
Áo 1.131 17.984 88.714 14,7 6.758,7 7.742,9
Bỉ 7.205 1.431 7.643 161,5 101,2 6,1
Brazil 206.808 18.481 249.871 -67 -38,3 20,8
UAE 47.161 5.789 42.794 -11,9 20,8 -9,3
Canada 18.190 2.681 25.544 287,8 3506,6 40,4
Chilê 16.692 3.080 14.827 20,3 1538,4 -11,2
Đài Loan 61.950 6.469 56.682 19,7 48,1 -8,5
Đức 5.256 765 5.222 -3,4 157,3 -0,6
Hà Lan 14.932 990 23.086 -64,0 -41,6 54,6
Hàn Quốc 26.297 2.082 27.975 25,1 -16,5 6,4
Hoa Kỳ 332.051 25.519 370.794 17,9 9 11,7
Indonesia 65.079 7.423 66.915 2,1 38,5 2,8
Italia 185.800 1.464 68.177 40,4 -91,6 -63,3
Malaysia 18.872 1.369 20.300 -48,5 -42,7 7,6
Mêhicô 1.386 225 1.418 207 392,7 2,3
Nhật Bản 2.810 283 2.004 17,7 -7,4 -28,7
Australia 12.620 1.638 15.148 152 193,6 20,0
Pháp 14.476 1.866 17.142 7,6 21,6 18,4
Philippin 15.086 1.204 19.210 -60,1 -13,2 27,3
Singapore 12.483 1.177 13.614 -30,39 -21,2 9,1
Tây Ban Nha 9.912 2.439 32.746 -10,31 563,4 230,3
Thái Lan 85.903 3.479 93.105 -46,84 -44,7 8,4
Trung Quốc 238.100 12.182 154.973 10,80 27 -34,9


Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 11/2015 đạt 399 nghìn tấn với giá trị đạt 92 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu lúa mì trong 11 tháng năm 2015 đạt 2,43 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 625 triệu USD, tăng 29,9% về khối lượng và tăng 6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính là Úc, chiếm tới 52,5%; tiếp đến là Brazil chiếm 14,1% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ là Áo (gấp 11,09 lần).

Đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 11/2015 đạt 165 nghìn tấn với giá trị 70 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt 1,4 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 639 triệu USD, tăng 0,2% về khối lượng nhưng giảm 21% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.

Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 11/2015 đạt 795 nghìn tấn với giá trị đạt 163 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt 6,56 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 1,43 tỷ USD, tăng 58,5% về khối lượng và tăng 34,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Braxin và Achentina là hai thị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này, chiếm lần lượt là 56.5% và 39% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng đột biến so với cùng kỳ là Achentina gấp 7,47 lần về khối lượng và 6,5 lần về giá trị.

XK sắn và các sản phẩm từ sắn:

Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 năm 2015 ước đạt 245 nghìn tấn, với giá trị đạt 87 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 11 tháng đầu năm 2015 đạt 3,67 triệu tấn với giá trị 1,18 tỷ USD, tăng 19,3% về khối lượng và tăng 15,6% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Trong 10 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính chiếm tới 89,14% thị phần, tăng 30,79% về khối lượng và tăng 26,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị phần của các thị trường chính khác đều nhỏ hơn 2%. Các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Đài Loan (tăng 74,82% về khối lượng và tăng 70,87% về giá trị; và Nhật Bản (tăng 42,21% về khối lượng và tăng 39,28% về giá trị).

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com/

Ý kiến của bạn

Các tin đã đưa ngày

   

Hotline 24/7:

0251 3955982